Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Điều trị sớm hơn có thể ngăn chặn chứng tự kỉ của con tôi?

Tôi có một câu hỏi với tư cách là một người mẹ đang vật lộn với tội lỗi. Tôi có đọc về một nghiên cứu của tổ chức Autism Speaks về sự phát triển của những sự can thiệp sớm cho những đứa trẻ chưa có đầy đủ triệu chứng. Điều này có phải có nghĩa là nếu con trai tôi nhận được sự can thiệp sớm hơn thì ngày hôm nay nó sẽ không bị chứng tự kỉ?
Câu trả lời đến từ nhà tâm lí học Sally J. Rogers, Tiến sĩ. Những nghiên cứu của cô ở Đại học California-Davis tập trung vào sự can thiệp sớm cho chứng tự kỉ.
Can thiệp sớm
Can thiệp sớm
Đây là một câu hỏi quan trọng và là một câu hỏi mà ngày càng nhiều và nhiều hơn những bậc cha mẹ thường hỏi khi chúng tôi phát triển những sự can thiệp sớm với những lợi ích đã được chứng minh.
Chúng tôi biết rằng sự can thiệp sớm tốt với những đứa trẻ mới chỉ biết đi và những đứa trẻ chưa đến trường có những sự ảnh hưởng mạnh mẽ và cải thiện chức năng cũng như là những kết quả trong dài hạn. Dựa trên sự hiểu biết của chúng tôi về sự can thiệp sớm với những đứa trẻ chỉ mới biết đi, chúng tôi có lí do để hi vọng rằng những sự can thiệp với trẻ em có thể đưa đến những lợi ích cộng thêm.
Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại chúng tôi không có bằng chứng rằng những sự can thiệp chúng tôi đang thử ở những đứa bé còn ẵm ngửa có những ảnh hưởng có lợi, liệu rằng chúng có thể ngăn chặn chứng tự kỉ ở một số trẻ em.

Chúng tôi phải tiếp tục theo dõi những đứa trẻ còn ẵm ngửa này khi chúng trưởng thành. Chúng tôi cũng phải áp dụng tính nghiêm ngặt khoa học rất lớn để đánh giá phạm vi của bất kì lợi ích nào. Toàn bộ giai đoạn tuổi ấu thơ sớm là khoảng thời gian của sự phát triển não bộ to lớn. Tuy nhiên, sự tiếp thu kiến thức mới tiếp tục kích thích sự phát triển não bộ trong suốt cuộc đời, thậm chí đối với người lớn.
Từ câu hỏi của bạn, tôi tưởng tượng rằng bạn đã cho con bạn những sự can thiệp tốt nhất bạn có thể ngay khi bạn có một sự chẩn đoán rõ ràng và sự tiếp cận với những dịch vụ này. Điều này là điều tốt nhất mà bất kì cha mẹ nào có thể làm để ủng hộ sự phát triển của một đứa trẻ. 
Thiên thần nhỏ Ninh Bình
Can thiệp sớm
Về khả năng để ngăn chặn chứng tự kỉ trước khi nó phát triển hoàn toàn, ở một số trường hợp sự can thiệp sớm ở những đứa trẻ chỉ mới biết đi và những đứa trẻ chưa đến trường thực sự dường như thay đổi quỹ đạo của sự phát triển của một đứa trẻ. Nhưng đây không phải là sự ngăn chặn. Đây là phản ứng với sự điều trị. Đôi khi nó có kết quả là sự tiến bộ đáng kể rằng, đến tuổi đi học, một đứa trẻ không còn có tất cả những tiêu chuẩn chúng tôi dùng để nhận biết tự kỉ. Tuy nhiên, đứa trẻ này có thể tiếp tục phải đấu tranh với những vấn đề có liên quan như sự lo lắng, những vấn đề về sự chú ý hay những khó khăn khác.
Một cách tổng quát, sự can thiệp sớm có chất lượng cao làm giảm những triệu chứng tự kỉ và có kết quả là sự cải thiện chức năng và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, có một điều rất quan trọng phải nhớ là chúng tôi có bằng chứng rõ ràng rằng những người với chứng tự kỉ vẫn duy trì sự đáp lại với những sự can thiệp trong suốt cuộc đời họ, bao gồm cả người lớn. Là những bác sĩ chuyên khoa, tất cả chúng tôi đã thấy những ví dụ về những sự phản ứng xuất sắc đối với những sự can thiệp khác nhau cho thanh thiếu niên và người lớn, bao gồm cả những người với những khuyết tật rất xấu.
VIDEO tìm hiểu Hội chứng Tự Kỷ ở Trẻ em trẻ Tự KỷCảm Ơn Các Bạn Đã Theo Dõi Kênh Trẻ Tự Kỷ
Read more

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Bài tập nhận biết thời gian qua từng độ tuổi


Cách dạy bé tập nhận biết thời gian qua từng độ tuổi


tre tu ky
Khi bé 2 tuổi, bạn có thể dạy con ghi nhớ các mốc thời gian bằng cách kể cho bé nghe các câu chuyện có tình tiết mạch lạc rồi hướng dẫn để bé kể câu chuyện theo trình tự sẵn có.
Hướng dẫn bé nắm bắt được các khái niệm về thời gian là cách giúp con phát triển tư duy, trí nhớ, kỹ năng ngôn ngữ và cả ý thức tự lập.
Ở mỗi độ tuổi, bé lại có những khám phá riêng về thời gian.

Dưới 12 tháng tuổi

Bộ não chưa hoàn thiện nên bé chưa hiểu khái niệm về các mốc thời gian. Bé chỉ có thể cảm nhận được lúc mình đói, muốn ăn hay đi ngủ. Vì thế, bạn có thể cho con làm quen các cụm từ chỉ thời gian qua các bài hát ru.

12-15 tháng tuổi

Lúc này, bé có thể hiểu được một cách đơn giản ý nghĩa của các con số. Chẳng hạn, khi bé đánh rơi 2 chiếc cốc xuống sàn và bạn nhắc bé: “Nhặt cả 2 cái lên, con”. Nhận biết được các con số là bước khởi đầu để bé làm quen với khái niệm về thời gian. Bạn có thể dạy bé biết đếm số theo đúng thứ tự 1-2-3 khi sắp xếp đồ chơi.

21 tháng tuổi

Đến giai đoạn này, bé có thể hiểu và sử dụng tốt các cụm từ mang ý nghĩa thời gian như “bây giờ” và “lát nữa”. Bạn có thể giúp bé ghi nhớ các mốc thời gian cơ bản qua một câu chuyện.
Mẹ nên chú ý chọn các truyện có tình tiết mạch lạc và chứa đựng những khoảng thời gian như thứ hai, thứ ba hay buổi sáng, buổi chiều… Sau đó, bạn hướng dẫn bé tự kể hết câu chuyện theo trình tự sẵn có.
Bạn cũng có thể tóm tắt các ý chính trong truyện theo những mốc thời gian cố định để bé dễ ghi nhớ. Điều này giúp bé phát triển tư duy logic cũng như khả năng liên kết các sự vật, hiện tượng một cách có khoa học.

2-3 tuổi

Giai đoạn này, bé có thể nhận biết được những cụm từ chỉ thời gian mà bạn thường sử dụng. Chẳng hạn, khi bạn nói “Cuối tuần mẹ sẽ đưa con đi công viên”, bé sẽ không đòi đi ngay nữa. Cho dù thực tế bé vẫn chưa phân biệt được chính xác cuối tuần là khi nào nhưng bé cũng nhận biết được không phải là ngày hôm nay.
Bạn cũng thấy bé có thể phân biệt được các mốc thời gian trong quá khứ và tương lai. Vì vậy, bạn nên hướng dẫn để bé không nhầm lẫn. Chẳng hạn khi bé nói: “Ngày mai mẹ đi làm”, bạn có thể gợi ý để con đổi lại thành: “Ngày mai mẹ sẽ đi làm”
3 tuổi là khoảng thời gian bé học hỏi nhiều từ vựng mới. Lúc này bạn có thể cùng bé đề ra một thời gian biểu cho những công việc hằng ngày. Mặc dù chưa biết xem đồng hồ hay lịch nhưng bé nhận biết rõ ràng được hôm qua, hôm nay hay buổi sáng, buổi tối… Bạn tập cho con làm mọi việc theo thời gian biểu sẽ giúp bé hình thành ý thức cá nhân một cách có kỷ luật.

3-4 tuổi

Bé đã hiểu được một số mốc thời gian cơ bản khi trò chuyện với bạn. Bé ghi nhớ tốt các khái niệm về hôm qua hay ngày mai, thậm chí còn hiểu được nghĩa cụm từ “chủ nhật hàng tuần” khi nghe bạn hứa “Chủ nhật hàng tuần mẹ sẽ đưa con về thăm bà ngoại”.
Giai đoạn này, bạn nên tổ chức một số trò chơi giúp bé ghi nhớ tốt như trò đếm số, xếp hình, ghép chữ… Mẹ cũng có thể dạy bé làm quen và ghi nhớ thứ tự các ngày trong tuần để giúp bé phát triển trí tuệ và tránh nhầm lẫn.

4-5 tuổi

Giai đoạn này, bé có thể nhận biết được các mốc thời gian quan trọng như sinh nhật mình hay các dịp lễ tết. Bé cũng dễ dàng sử dụng thành thạo các cụm từ như “30 phút trước” hay “10 phút nữa” khi muốn đề nghị bạn làm một việc gì.
Bạn có thể sắm cho con một chiếc đồng hồ cát và hướng dẫn bé sử dụng. Chẳng hạn khi cát chảy hết tương đương với 15 phút, dốc ngược lại bé sẽ được thêm 15 phút nữa.

Trên 5 tuổi

Bé thích nghe ông bà hay bố mẹ kể chuyện ngày xưa. Nếu nghe bà nội nói: “Hồi xưa, bằng tuổi Bi, bố con cũng hay tè dầm lắm”, bé sẽ rất thích thú. Bạn có thể cho bé xem những bức ảnh chụp khi bé còn nhỏ để giúp con hình thành ý thức về các khoảng thời gian rõ ràng hơn.


Khoảng 6 tuổi, bé có thể nói chính xác ngày tháng năm sinh của mình khi có người hỏi. Bé cũng biết khoảng thời gian nào bạn yêu cầu bé đi ngủ hay thời điểm cần đến lớp…
Bạn cũng có thể đặt chuông báo thức đồng hồ để bé biết mình thức giấc là 7 giờ. Dần dần, bé sẽ tự biết xem đồng hồ. Đây là cách giúp bé nhận diện tương đối chính xác con số trên mặt đồng hồ. Vì vậy, bé sẽ bớt bỡ ngỡ khi bước sang giai đoạn học vần.

Video: Chứng Tự Kỷ

Các bài viết tham khảo: Bài tập nhận biết thời gian qua từng độ tuổi

Read more

LUYỆN KỸ NĂNG GIỮ THĂNG BẰNG VÀ ĐIỀU TIẾT


Một số kỹ năng vận động nên can thiệp sớm cho trẻ CPTTT



Tập cho bé một số kỹ năng vận động như: giữ thăng bằng, điều tiết, kỹ năng đi, chạy nhảy

LUYỆN KỸ NĂNG GIỮ THĂNG BẰNG VÀ ĐIỀU TIẾT

* Bài tập 1: Giữ thăng bằng

– Đỡ chắc quanh ngực trẻ, đặt trẻ đứng trên một bề mặt phẳng. Mẹ đứng đằng sau đỡ trẻ.
– Đỡ phần mông của trẻ, mặt trẻ quay về phía mẹ, tay trẻ bám vào đầu gối mẹ. Quan trọng là trẻ phải đứng thẳng mông, hai bên hông phải thẳng hàng với phần còn lại, ở tư thế này mẹ có thể trò chuyện với trẻ.
– Nếu trẻ không thể đứng được do chân trẻ quá mềm nhũn, bạn có thể dùng nẹp buộc hai bên đầu gối của trẻ. Nẹp ở đây có thể là miếng bìa cứng và có thể quấn quanh bởi miếng băng vải, giữ chặt khóa dán.
– Tiếp theo có thể cho trẻ đứng vịn tay vịn, có thể cho trẻ vịn vào chiếc ghế nệm, trên đó có nhiều đồ chơi. Điều quan trong là vẫn là trẻ đứng thẳng mông
– Bạn hãy tập cho trẻ đứng vịn một mình bàng cách cho trẻ ngồi cạch một chiếc bàn có chiều cao ngang tầm vai của trẻ. Đặt những loại đồ chơi mà trẻ thích lên trên mặt bàn để khuyến khích trẻ đứng dậy lấy.
– Khi trẻ có thể đứng trên đôi bàn chân nhỏ xíu của mình, bạn hãy giữ hai bên hông của trẻ, lắc lư sang bên phải, sang bên trái, để trẻ có thể chịu trong lượng của cơ thể trên từng chân một vào từng thời điểm. Đây là bước chuẩn bị cho kỹ năng đi tiếp theo.
– Để tiến tới trẻ có thể đứng được một mình, mẹ có thể luyện tập cho trẻ đứng vịn nhiều lần, sau đó hai tay trẻ bám vào hai tay mẹ, sau nhiều lần như vậy, mẹ bỏ một tay trẻ ra, chỉ giữ trẻ trên một tay.
– Quỳ đằng sau trẻ, gữ hai bên hông của trẻ, đưa cho trẻ cầm món đồ chơi mà trẻ thích, dần dần mẹ bỏ một tay, bỏ hai tay ra khỏi hông trẻ. Lúc này trẻ sẽ tự mình tập giữ thăng bằng bằng cách các ngón chân của trẻ sẻ bám vào sàn nhà nếu như trẻ hơi đỗ về phí trước, nếu trẻ hơi đỗ ra đằng sau, các ngón chân sẽ nhấc lên để kéo trẻ về đằng trước.

* Bài tập 2: Nhảy bằng hai chân

+ Mục đích: Rèn luyện cho trẻ khả năng giữ thăng bằng và khả năng điều tiết.
+ Cách hướng dẫn
Người lớn đứng đối diện với trẻ, giữ hai tay của bé, thử làm mẫu một lần nhảy lên khỏi mặt đất, sau đó cùng bé nhảy. Khi bắt đầu, người lớn nắm hai tay bé để nhảy, dần dần nắm một tay hoặc cho bé bám vào vật gì đó để tự nhảy. Nên rèn luyện nhiều động tác này.

*Bài tập 3 : Đi giật lùi

+ Mục đích: Rèn luyện cho trẻ khả năng giữ thăng bằng và bước vững.
+ Cách hướng dẫn:
Dạy trẻ cách đi giật lùi hoặc vừa kéo đồ chơi vừa lùi, cũng có thể cùng trẻ chơi trò anh tiến tôi lùi.

* Bài tập 4: Ngồi lên xe đồ chơi

+ Mục đích: Rèn luyện đôi chân và khả năng giữ thăng bằng, thúc đẩy sức mạnh của đôi chân và phối hợp giữa động tác và thị giác.
+ Cách hướng dẫn
Cho trẻ đạp xe ba bánh, khi cần thiết có thể nối một sợi dây vào xe kéo đi để giúp trẻ lấy đà đạp xe. Sau một khoảng thời gian trẻ có thể tự mình đạp xe.

* Bài tập 5: Tập đứng vững trên sàn và tập bước.

+ Mục đích : Rèn khả năng đứng vững trên sàn và tập bước
+ Cách hướng dẫn :
– Đứng một chân trên sàn và chân kia đặt một bước nhỏ trên một khối gỗ hoặc cuốn danh bạ điện thoại.
– Ngồi trên sàn, hai chân duỗi thẳng, để trẻ đứng giữa hai chân bạn và cho trẻ bước một chân lên đùi bạn.
– Khuyến khích trẻ chơi các trò chơi hoặc hát các bài hát diễn tả bằng điệu bộ, như vậy trẻ sẽ có thể tập động tác này một cách tự nhiên mà không cần bấu víu vào tay người khác

* Bài tập 6: Tập giữ thăng bằng trên bạt và lò xo

+ Mục đích: Rèn khả năng đứng vững trên sàn và tập bước
+ Cách hướng dẫn:
– Đặt trẻ đứng trên bạt lò xo và nhẹ nhàng nghiêng tấm đệm qua hai bên trước và sau
– Để quả bóng trên tấm bạt và bảo trẻ đá bóng ra ngoài
– Nếu trẻ đứng vững trên tấm bạt, bạn ném cho trẻ quả banh và khuyến khích trẻ ném lại. Trẻ buộc phải nỗ lực giữ thăng bằng trên hai chân để thực hiện động tác

Luyện kỹ năng đi

* Bài tập 1: Đi vịn

+ Mục đích: Trẻ bước được chân
+ Cách hướng dẫn:
– Khi trẻ đã đứng vững thì việc trẻ đứng vịn là chuyện đơn giản đối với trẻ. Để tập cho trẻ những bước đi, chuyển động đầu tiên, hãy để cho trẻ đứng vịn ở 1 đầu của salon, phía đầu đằng kia để 1 món đồ chơi mà trẻ thích để thu hút trẻ. – Trẻ có thể bám dọc theo chiếc salon đi tới đồ chơi mà trẻ muốn

* Bài tập 2: Bước đi

+ Mục đích: Luyện đi cho trẻ
+ Cách hướng dẫn:
– Đứng sau lưng trẻ, đặt hai chân trẻ đứng trên hai chân của mẹ, hai tay đỡ nách hoặc cầm tay trẻ và bước những bước nhỏ
– Hãy cho trẻ đứng cạnh ngang tầm ngực trẻ, đặt những món đồ chơi trẻ thích lên trên. Mẹ có thể di chuyển đồ chơi trẻ thích để khuyến khích trẻ lấy được đồ chơi
– Khi trẻ đã đứng vững, mẹ hãy đứng đằng trước và dắt hai tay trẻ tiến về phía trước, đi từng bước một
– Có thể dần dần mẹ bỏ một tay, hai tay trẻ ra, trẻ có thể bước 1 bước rồi 2 bước
– Có thể sử dụng dụng cụ hỗ trợ như: xe tập đi

Luyện kỹ năng chạy

Những bước chạy đầu tiên của trẻ là những bước đi nhanh. Hãy tập cho trẻ các hình thức chạy sau:
– Chạy thẳng trên đường bằng phẳng
– Chạy trên đường vòng bằng phẳng
– Chạy zích zắc qua thùng giấy

Video: Chứng Tự Kỷ 

Các bài viết tham khảo: LUYỆN KỸ NĂNG GIỮ THĂNG BẰNG VÀ ĐIỀU TIẾT

Read more

Kỹ năng vận động thô cho trẻ chậm phát triển


Một số cách luyện kỹ năng vận động thô cho trẻ chậm phát triển



Luyện các kỹ năng vận động thô: đầu cổ, ngồi, bò cho trẻ

Luyện đầu và cổ cho trẻ

– Cho trẻ nằm sấp trên bụng mẹ, gọi trẻ, trò chuyện với trẻ, kích thích trẻ có phả ứng như cố gắng nhấc đầu lên (Hãy luyện tập cho trẻ cả 2 bên để trẻ có thể quay đầu được cả 2 bên như nhau)
– Đặt trẻ nằm sấp và tập cho trẻ chống trên 2 cánh tay bằng cách nâng nhẹ nửa thân người trẻ lên bằng một cái gối
– Hãy gọi trẻ, lúc lắc các đồ chơi có tiếng động trước mặt trẻ, nâng các vật dụng lên từ từ nhằm thu hút trẻ ngẩng đầu, rướn lên phía trước
– Lăn trẻ nằm nghiêng một bên và đỡ quanh ngực trẻ. Nghiêng trẻ lên và nói chuyện với trẻ từ phía trên và phía trước vai của trẻ, để kích thích trẻ ngẩng đầu lên nhìn bạn
– Cần đặt trẻ nằm nghiêng vài lần trong ngày khi trẻ thức và hãy đổi bên
– Giúp trẻ lăn từ tư thế nằm nghiêng sang tư thế nằm ngửa
– Đỡ chắc quanh vai trẻ. Nhẹ nhàng vòng quanh vai kéo tới trước để giúp trẻ điều khiển đầu. Hai ngón trỏ của bạn chĩa thẳng đỡ sau cổ đề phòng khi trẻ bật ngửa ra phía sau. Nói chuyện với trẻ, từ từ hạ trẻ xuống 1 chút, giữ như vậy từ 5 – 8 giây rồi đưa trẻ trở lại tư thế ngồi

Luyện kỹ năng ngồi cho trẻ

– Đặt trẻ lên đùi từ từ nghiêng trẻ ra phía sau, rồi đưa lên trở lại. Nghiêng trẻ qua trái qua phải, nghiêng về phía sau và cuối cùng nghiêng ra phía trước. Cần di chuyển chậm để trẻ có thời gian nâng đỡ đầu khi mỗi lần nghiêng. Khi bế trẻ phải nâng đầu và thân lên trên
– Đặt trẻ ngồi lên quả bóng lớn và đặt hai bàn tay trẻ đặt trên hai đầu gối, hai chân xếp lại, lăn lên phía trước, lăn về phía sau. Giữ trẻ ở phía sau, hoặc phía trước.
– Đặt trẻ ngồi trên đầu gối của hai chân bạn, hai tay giữ hai bên hông trẻ. Từ từ nâng nhẹ đầu gối lên để nghiêng trẻ qua một bên, chờ đợi cho trẻ nghiêng trơ lại vị trí giữa, cố gắng tập cho trẻ nhiều lần để trẻ tập giữ thăng bằng khi ngồi.
– Đặt trẻ ngồi trong một hộp các – tông chắc chắn với một cái gối mềm chèn giữa trẻ với thành hộp hai bên và phía sau, để một số đồ chơi trong hộp cho trẻ chơi.
– Sử dụng ghế cao có gắn khay ăn cho trẻ ngồi ăn hoặc chơi đồ chơi hoặc có thể tập cho trẻ ngồi trên ghế dựa nhỏ thấp với chỗ ngồi bằng phẳng có bàn.

Luyện kỹ năng bò cho trẻ

Bài tập 1 : Định hướng cho trẻ bò

Khi trẻ đang bò, đặt một đồ chơi mà trẻ thích cách trẻ 20cm, cổ vũ cho trẻ đến lấy, khi trẻ bò gần đến nơi, lại tiếp tục đặt đồ choi ra xa hơn. Nếu trẻ chưa bò vững có thể dùng tay đỡ bụng cho trẻ bò.
Hoặc sử dụng đồ vật phát ra âm thanh tiếng kêu, đặt hơi gần vị trí trẻ, tạo ra tiếng kêu kích thích trẻ bò nhích tới lấy, khi thấy trẻ bò tới hơi nhích đồ chơi ra để trẻ lại tiếp tục bò

Bài tập 2: Bò tự do

Tạo khoảng không gian rộng, lau sạch nền nhà, cất hết những vật nguy hiểm và không vệ sinh, xung quanh đặt một vài đồ chơi để thu hút trẻ, cho trẻ bò khắp nền nhà để chơi đồ chơi, nhưng cần chú ý cho trẻ bò trong phạm vi quan sát của người lớn.

Bài tập 3: Bò chuyển hướng

Trước tiên bạn hãy cho trẻ chơi đồ chơi một lúc, sau đó lấy đồ chơi đó dấu phía sau lưng trẻ, trẻ sẽ phải bò quay trở lại phía sau để lấy đồ chơi.

Bài tập 4 : Bò chui qua ống

Làm một thùng giấy rỗng đặt đồ chơi bên kia đầu thùng giấy, cho trẻ bên này và kích thích trẻ bò chui qua thùng giấy để lấy đồ chơi

Kỹ năng vận động thô cho trẻ chậm phát triển

Video: Chứng Tự Kỷ 

Các bài viết tham khảo:
Read more

Dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ




Thường người ta hay nói trẻ bị tự kỷ là do cha mẹ, do cha mẹ không biết cách chơi với bé, do trẻ suốt ngày xem tivi, xem ipad. Những điều đó khiến cho cha mẹ trẻ tự kỷ hay dằn vặt bản thân, đổ trách nhiệm cho nhau. Nhưng tự kỷ là một tình trạng phát triển từ khi mới sinh chứ không phải nguyên nhân từ các bậc cha mẹ. Tự kỷ là một tình trạng kéo dài suốt đời. Một dải phổ tự kỷ từ hội chứng Asperger là một hội chứng nhẹ cho đến hội chứng Kanner là một hội chứng khá nặng

Dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ

Trẻ mắc hội chứng tự kỷ được chẩn đoán có 3 khiếm khuyết sau:
  • Khiếm khuyết về tương tác xã hội
  • Khiếm khuyết về giao tiếp
  • Cứng nhắc trong tư duy
Và đi kèm với những phản ứng bất thường đối với những kích thích giác quan

Một số dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ dựa trên bộ ba khiếm khuyết:

1. Khó khăn trong giao tiếp

  • Không chỉ tay hoặc không nhìn theo tay chỉ
  • Dùng tay kéo người lớn lấy dùm đồ vật yêu thích, hoặc tự lấy nó
  • Nói môt cách đều đều, đơn điệu
  • Lặp lại những gì mà trẻ nghe được trên tivi
  • Nói quá to hoặc quá nhỏ
  • Không khởi xướng sự tương tác
  • Nhìn chằm chằm vào người khác khi nói chuyện
  • Kém giao tiếp mắt – mắt (vd: nhìn sai thời điểm, nhìn đi hướng khác)
  • Cần được sự quan tâm của người lớn
  • Lời nói quá chính xác và có vẻ mô phạm
  • Diễn giải lời nói một cách văn học
  • Ngữ điệu khác thường (vd:giọng nước ngoài)
  • Tiếp xúc không phù hợp (vd: đẩy ra để nói xin chào)
  • Hiểu tốt hơn nếu kết hợp giữa ngôn ngữ lời nói và cử chỉ điệu bộ
  • Có vấn đề về biểu lộ nét mặt
  • Có thể gọi tên đồ vật nhưng không dùng nó để trò chuyện
  • Dường như chỉ nghe 1 phần những gì người ta nói
  • Làm ồn nhưng không nói thành từ

2.  Khó khăn trong mối quan hệ xã hội

  • Lờ đi hoặc dường như không quan tâm tới trẻ khác
  • Chạy khỏi người khác
  • Dường như thích thú với đồ vật hơn với người
  • Có mối quan hệ với người lớn tốt hơn so với nhóm bạn cùng trang lứa trẻ
  • Không che dấu sự buồn chán
  • Không thích bị sờ mó hoặc ôm giữ
  • Không phân biệt được người quen hay người lạ
  • Hiếm khi biểu lộ cảm xúc
  • Thấy khó tham gia vào một cuộc trò chuyện nhóm
  • Có xu hướng bị thu hút bởi chính những hoạt động của mình
  • Không quan tâm tới những nỗi buồn của người khác
  • Không quan tâm tới lời nói của người khác trong hội thoại
  • Không muốn người khác biết về suy nghĩ, trải nghiệm của mình
  • Không nhận thức được tầm quan trọng về diện mạo bên ngoài cảu cá nhân

3. Cứng nhắc và không linh hoạt trong quá trình tư duy

  • Luôn nghĩ đến những thứ trẻ thích như tàu hỏa, xe, đồng hồ, con số…
  • Bị hấp dẫn bởi ánh sáng, các đồ vật sáng, các đồ vật xoay được, nước, đồ vật nhiều màu sắc
  • Không thích các thoái quen sinh hoạt bị đảo lộn
  • Khó thích nghi với môi trường mới
  • Khó khăn trong việc áp dụng những kỹ năng đã học trong các tình huống khác
  • Phát triển các nếp sinh hoạt hàng ngày phải theo 1 thứ tự nhất định
  • Có trí nhớ khác thường đối với các sự kiện
  • Lặp lại các câu hội thoại, câu hỏi
  • Rất bối rối trong các tình huống mới
  • Hạn chế trong các trò chơi tưởng tượng

Một số đặc điểm khác:

  • Có phản ứng bất thường với âm thanh/ cảm giác/ kết cấu/ mùi vị
  • Kém nhạy cảm với các mức độ đau thấp
  • Có các biểu lộ/ cử động bất thường trên khuôn mặt
  • Có dáng đi bất thường
  • Không thích những nơi đông người, ồn ào
  • Khả năng phối hợp kém
  • Có các hành vi cầu kỳ khác thường khi thích thú
  • Vận động thô phát triển tốt
  • Có thể quay vòng tròn mà không chóng mặt
  • Gặp khó khăn với chữ viết
  • Học đi xe đạp chậm
  • Gặp khó khăn trong việc tập trung vào một cái gì đótrong một khoảng thời gian
  • Chú ý tới chi tiết nhiều hơn tổng thể bức tranh
Để đánh giá một đứa trẻ có mắc chứng tự kỷ hay không thì trẻ cần hội tụ đủ 3 khiếm khuyết trên và cũng cần kiểm tra nhiều các test khác nhau. Trên đây chỉ là một số dấu hiệu để phát hiện ra dấu hiệu của một đứa trẻ có thể bị mắc hội chứng tự kỷ để chúng ta tăng cường can thiệp sớm cho trẻ.

Video: Chứng Tự Kỷ 

Các bài viết tham khảo:
Read more

Lịch sử về trẻ tự kỷ


Ngược dòng lịch sử, dường như luôn luôn có sự hiện diện của những đứa trẻ tự kỷ trong xã hội loài người, dù rằng cho mãi đến năm 1943, sau công bố của BS. Leo Kanner (Hoa Kỳ), người ta mới thực sự biết được sự tồn tại của những đứa trẻ như thế. Đó đây, trong thế giới chuyện cổ tích phương Tây, vẫn còn những câu chuyện kể về những đứa trẻ bị “tiên đánh tráo”, trong đó những vì tiên trên trời đã xuống bắt lấy đứa bé con người và để lại những đứa bé tiên xinh đẹp, nhưng tính tình lạ lùng và khác xa so với loài người.Vào năm 1799, một bác sĩ người Pháp là J.M.G Itard đã tiếp nhận một đứa bé 12 tuổi được biết dưới cái tên Victor “Đứa bé hoang dã ở Aveyron”. Victor đã được dân làng Aveyron tìm thấy khi nó đang đi lang thang và sống đời hoang dã ở trong rừng. Hành vi của đứa trẻ này rất bất thường. Itard nghĩ rằng Victor là một đứa trẻ thiểu năng do đã bị cách ly khỏi loài người ngay từ thuở bé. Pinel, một bác sĩ nổi tiếng khác cùng thời, đã không đồng ý với Itard. Pinel tin rằng Victor là một đứa trẻ chậm phát triển mức độ nặng ngay từ lúc sinh ra. 

Lịch sử về trẻ tự kỷ

Ngày nay khi xem lại câu truyện này người ta có thể thấy rằng, Victor đã có những hành vi ứng xử của một trẻ bị tự kỷ. Nhưng vào thời ấy, những hành vi đi bốn chi, hú như sói của Victor chỉ khiến người ta thêu dệt nên câu chuyện về một “Cậu bé rừng xanh” được mẹ sói nuôi dưỡng từ nhỏ. Cũng có thể lý giải rằng vào thời kỳ nhiễu nhương ấy (sau cách mạng Pháp) đứa bé đã bị cha mẹ cách ly hoặc bỏ rơi vì tình trạng tự kỷ với những hành vi khó kiểm soát của nó.
Hơn một thế kỷ sau, năm 1919, một tâm lý gia Hoa Kỳ , Lightner Witmer, đã có một bài viết về Don, một đứa bé trai 2 tuổi 7 tháng, với những hành vi ứng xử của một đứa trẻ tự kỷ. Sau đó, Don được đưa vào một trường đặc biệt của Witmer và nhờ sự dạy dỗ cá nhân tích cực trong thời gian dài, đứa bé đã có thể bù trừ được sự khiếm khuyết của nó.
Năm 1943, Kanner (ĐH John Hopkins – Hoa Kỳ) là người đầu tiên đã mô tả một nhóm những trẻ đặc biệt này. Từ đó sự quan tâm của giới khoa học ngày càng gia tăng. Đã có nhiều học thuyết giải thích về căn nguyên của bệnh tự kỷ và hành vi thực sự của những trẻ bị căn bệnh này mới được quan sát và mô tả thật chi tiết.
Thời gian sau đó, nhiều phương pháp trị liệu và giáo dục đã ra đời góp phần cải thiện chất lượng đời sống và tiên lượng của trẻ tự kỷ.
Năm 1943, Leo Kanner mô tả 11 ca tự kỷ đầu tiên với một số nét đặc trưng như: không tạo lập được các mối quan hệ với con người, bàng quang, thờ ơ, chậm nói và không sử dụng lời nói để giao tiếp, cùng với các hoạt động chơi đơn giản, lập đi lập lại.
Kanner mô tả những trẻ này như thể “bị mất khả năng bẩm sinh trong việc thiết lập các mối quan hệ cảm xúc với con người”.
Mặc dù có sự khác nhau giữa các trường hợp, nhưng vẫn có hai nét chung có ý nghĩa chẩn đoán:

+ Tính cô độc, tự kỷ;

+ Sự gìn giữ nguyên trạng mang tính ám ảnh.

Kanner đề xuất thuật ngữ “tự kỷ sớm nhũ nhi” (Early Infantile Autism) nhấn mạnh sự xuất hiện triệu chứng đã có từ tuổi nhũ nhi.
Sau đó, ở Mỹ và Châu Âu, cũng đã phát hiện thêm nhiều trẻ có biểu hiện tương tự (Asperger, 1944; Despert, 1951; Van Krevelen, 1952).
Tên gọi tự kỷ (Autism) vẫn còn bị tranh cãi. Nó khiến người ta dễ lầm lẫn với việc Bleuler dùng thuật ngữ này để mô tả bệnh tâm thần phân biệt ở người lớn. Từ đó dẫn đến hàng loạt các tên gọi khác nhau để thay thế như tâm thần phân liệt trẻ em, loạn tâm ranh giới, loạn tâm cộng sinh và loạn tâm tuổi nhũ nhi tùy theo quan điểm riêng của cac tác giả về bản chất và căn nguyên của bệnh tự kỷ.
Năm 1956, để làm rõ sự nhầm lẫn này Eisenberg và Kanner đã giảm số triệu chứng chủ yếu còn lại 2:

+ Tự cô lập ở mức độ nặng;

+ Khuynh hướng muốn bảo tồn nguyên trạng.

Đặc tính bất thường, kỳ dị về ngôn ngữ được xem là thứ phát do rối loạn quan hệ với con người và vì thế không phải là triệu chứng chính yếu. Tuổi khởi phát được mở rộng đến 2 năm đầu đời.
Tuy nhiên, một số tác giả lại đưa ra những tiêu chuẩn khác. Schain và Yannet (1960) đã loại triệu chứng bảo tồn nguyên trạng ra khỏi tiêu chuẩn của họ. Creak và cs. (1961) sử dụng 9 điểm chẩn đoán cho tất cả các loại loạn tâm ở trẻ em, bao gồm cả bệnh tự kỷ của Kanner, vào trong một chẩn đoán duy nhất là “hội chứng tâm thần phân liệt ở trẻ em”.
Năm 1968 , Rutter đưa ra 4 đặc trưng chủ yếu của tự kỷ :

1. Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội .

2. Rối loạn ngôn ngữ: từ mức độ không có lời nói cho đến lời nói lập dị.

3. Hành vi, vận động dị thường : từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắc, cho đến các khuôn mẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép.

4.- Khởi phát sớm trước 30 tháng tuổi.

Những nét đặc trưng này hiện diện ở hầu hết các trẻ tự kỷ. Có một số nét đặc hiệu khác, nhưng chúng lại phân bố không đồng đều.
Năm 1978, Hiệp hội Quốc gia về Bệnh Tự kỷ ở Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa: Tự kỷ là một hội chứng các hành vi biểu hiện trước 30 tháng tuổi với những nét chủ yếu sau :

1. Rối loạn tốc độ và trình tự phát triển.

2. Rối loạn đáp ứng với các kích thích giác quan.

3. Rối loạn lời nói, ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ.

4. Rối loạn khả năng quan hệ với con người, sự vật và sự kiện (Ritvos & Freeman, 1978).

Định nghĩa này cùng với các định nghĩa của Kanner (1943) và Rutter (1968) đã tạo sở cho hai hệ tiêu chuẩn được dùng rộng rãi sau đó là ICD-9 (1980) và DSM III (1980) .

Video: Chứng Tự Kỷ 

Các bài viết tham khảo:
Read more

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016